Các chúa Nguyễn và
nhà Nguyễn xác lập & thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XVII đến khi thực dân Pháp Xâm Lược
và Đô hộ Việt Nam
TS. Nguyễn Nhã
Hội khoa học lịch sử Tp.HCM
I.
Nhà nước Đại Việt thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa và
Trường Sa qua đội dân binh Hoàng Sa và Bắc Hải từ đầu thế kỷ XVII đến
năm 1801
Trong thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân
tranh và thời Tây Sơn, nguồn tài liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại
tài liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí
Lộ Đồ Thư (1686) trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách
Thiên Hạ Bản đồ và Phủ Biên tạp Lục (1776) của Lê Quý Đôn. Trong Thiên
Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686, có bản đồ là tài
liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai
thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn
(1776) là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có 2 đoạn
văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại
Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Khi quân Tây
Sơn nổi dậy, dân xã An Vĩnh vẫn tiếp tục xin chấn chỉnh hoạt động ở
Hoàng Sa với tờ đơn của ông HàLiễu gửi cho chính quyền Tây Sơn ngày 15
tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) và Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm
Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản Binh Dân Chư Vụ Thượng
tướng Công gởi cho cai đội Hoàng Sa đi thuyền ra quần đảo Hoàng Sa. Tài
liệu hiện lưu giữ ở Nhà thờ họ Võ, xã An Vinh huyện đảo Lý Sơn, Quảng
Ngãi.
(xem Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân, Đề tài BĐHĐ 01-01, Khoa Sử, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Sau
đó có những tài liệu thời Nhà Nguyễn như Dư Địa Chí trong Bộ Lịch
Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt
Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều
điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn cuối thế kỷ
XVIII. Đại Nam Thực Lục Phần Tiền Biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in
năm 1844, tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng
bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Việt Sử Cương Giám Khảo
Lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) cho biết ở buổi quốc sơ thường kén
những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh. - Trong bộ sách Đại Nam Nhất
Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần 2 và khắc in) xác định
Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động của
đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản. - Trong quyển III
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, đời vua
Minh Mạng, có 3 đoạn văn liên quan đến việc xác lập chủ quyền của Việt
Nam ở Hoàng Sa. Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến
thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong
cương vực của Việt Nam.
1. Về những tài liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy
- Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc)
năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa
tức Hoàng Sa và đã khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các
sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
– Các
bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về
trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung Quốc. Khảo sát
tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta
thấy tất cả các bản đồ cổ nướcTrung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có
bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả các bản đồ cổ ấy
đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung
Quốc.
- Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1
năm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này
và gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật nhưtiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm
trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ
quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt Bắc ngôi miếu “Hoàng
Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng
hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam. Bởi Trung
Quốc không hề có tên Hoàng Sa và đã trùng khớp với việc xây miếu thờ ở
Hoàng Sa từ lâu và kể cả thời Minh Mạng sau này của Việt Nam.
2. Về những tài liệu Phương Tây cũng xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa
Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.
2.1. Đội Hoàng Sa, đội dân binh khai thác, quản lý Hoàng Sa & Trường Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
Trước
năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đông Nam Á không có bằng
chứng nào minh chứng họ quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của Nhà nước
trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ
từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam, đội
Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm
soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa.
Các sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được
thành lập vào đầu thời Chúa Nguyễn. Hải Ngoại Kỷ Sự (Trung Quốc) viết
năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội
“Hoàng Sa” và Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776, chép “Tiền Nguyễn Thị”.
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên
(1821) chép “Quốc sơ trí Hoàng Sa”.
Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần
đến hết thời kỳ Chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi.
Phong trào Tây Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì đội
Hoàng Sa đặt Dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn mà trong tài liệu còn lưu
giữ tại Nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré đã cho biết năm 1786
Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho đội
Hoàng Sa hoạt động trở lại.
Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn,
hoạt động của đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng, nên đến khi Gia Long năm
thứ 2 (1803) mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại nhưĐại Nam Thực Lục
Chính Biên, quyển XXII đã ghi rõ: “cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa
biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”. Năm 1815, vua
Gia Long sai đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa. Theo những
tài liệu như Dư Địa Chí, Hoàng Việt Địa DƯ Chí, Đại Nam Thực Lục Tiên
Biên, Đại Nam Nhất Thống Chí, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3
âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Riêng theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ
Thư hay Toản Tập An Nam Lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về;
theo Phủ Biên Tạp Lục thường đi vào tháng giêng âm lịch đến tháng 8 về
(nếu lương thực mang đi có 6 tháng, chép tháng giêng là nhầm).
Từ
tháng 3 đến tháng 8 tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch ở
Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi biển,
nhất là vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến
tháng 11 âm lịch (tháng 9 Dương lịch đến tháng 12 Dương lịch), nhất là
hai tháng 9 và 10 âm lịch. Lúc đầu đi sớm quá không thấy lợi, nên dời
đến tháng 3 là điều hợp lý. Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm
lịch đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3
đêm. Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí 3, 4 ngày đêm.
Thời Chúa Nguyễn
mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa, song
còn dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng đặc
biệt cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa. Cũng theo Phủ Biên Tạp Lục
của Lê Qúi Đôn đã gọi quân nhân để chỉ những người trong đội Hoàng Sa,
trong đó có 2 người bị trôi dạt vào Cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị bão
vào năm Càn Long thứ 17 (1754), còn tám người khác bị mất tích. Nhưthế
mỗi thuyền trong đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người. Tại xã An
Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ còn di tích một ngôi miếu ở cạnh
cửa biển Sa Kỳ là ngôi miếu Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu của con cá
voi, tương truyền do binh Hoàng Sa đưatừ Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng
Sa, ngôi miếu này bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá
voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh
ngôi miếu xưa. Tại Cù Lao Ré nay là huyện đảo Lý Sơn vẫn còn Âm Linh Tự
tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây xã Lý Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưavà Âm
Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải tức phường An Hải xưa. Cũng tại xã An
Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế
đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính đội Hoàng Sa lên đường làm
nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đình làng. Các
tộc họ thường làm lễ vào ngày 19 tháng 2 âm lịch.
Lính Hoàng Sa
được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm: "dễ khó về". Trừ các chỉ huy như
đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia
đình, vừa khoẻ mạnh vừa không vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xã Tự
Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao Ré có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ
những người đi lính Hoàng Sa như Nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã
Lý Vĩnh có Nhà thờ và gia phả ông tổ Phạm Quang Anh, người được vua Gia
Long cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815. Trong 6 tháng hàng năm từ
năm này qua năm khác, đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các
đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản đội Bắc Hải ở
Trường Sa bây giờ. Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam
(Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, HàTiên. Dù
chính đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự chính mình đi khắp nơi song lại
kiêm quản các đội khác (nhưđội Bắc Hải) thì phạm vi hoạt động rõ ràng
rất rộng, khắp các đảo Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền
Trung Bộ Việt Nam khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ phía Tây Nam đảo Hải
Nam xuống tới vùng TrườngSa hiện nay.
Đứng đầu đội Hoàng Sa là
cai đội như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 đã ghi: “Lịnh cai đội Hoàng Sa
tính quản”. Như binh chế thời chúa Nguyễn mà chúng ta đã biết đội có cai
đội và đội trưởng chỉ huy. Chức cai đội Hoàng Sa thường được kiêm luôn
các chức khác nhưTrườnghợp Phú Nhuận Hầu kiêm cai thủ đồn cửa biển Sa
Kỳ, kiêm cai cơ thủ ngự, nhưtheo tài liệu tờ kê trình của Phú Nhuận Hầu,
ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), tài liệu hiện lưutrữ tại Nhà
thờ họ Võ phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn,
tỉnh Quảng Ngãi. Thủ ngự là đơn vị cai quản, tuần tra chống trộm cướp
thời Nguyễn. Tùy theo mỗi năm, số thuyền đi từ 4 hay 5 chiếc đến 18
chiếc. Mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản. Thuyền
cũng là đơn vị nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn nhưchúng ta đã từng
biết. Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền, đều là dân binh được gọi
là “quân nhân” như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 ghi chép. Những quân nhân
này chủ yếu là dân gốc xã An Vĩnh và một phần là dân xã An Hải ở đất
liền và ngoài đảo Cù Lao Ré. Xã An Vĩnh và xã An Hải ở hai bên cửa biển
Sa Kỳ. Cùng với 2 phường An Vĩnh và phường An Hải do di dân đất liền ra
Cù Lao Ré, trong đó xã An Vĩnh là chính, cung cấp dân binh cho đội Hoàng
Sa. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ riêng Việt Sử
Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến hai hộ An Hải
và An Vĩnh tức hai phường An Vĩnh và An Hải ở đảo Lý Sơn hay Cù Lao Ré.
Lương
thực mang đi cho 6 tháng được Nhà nướccấp phát. Song chủ yếu là gạo còn
thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải
mang củi lửa và theo lối truyền thống, bọn họ dấu những bếp ở mỗi
thuyền bằng các nùi dây dừa khô giữ lửa lâu. Đời sống của quân nhân
trong đó có đội Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của
người dân theo như Thích Đại Sán đã tả, rất khổ, phải nộp vào công khố
bảy tám phần mười hoa lợi. "Người làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai
trưởng. Bọn này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp lúc Nhà
nướccó việc công, cai xã bắt dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo cơm
đơm, gạo bới đi làm”.
Các quân nhân đội Hoàng Sa còn mang theo
một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn tre. Nếu chẳng may
có mệnh một ở giữa biển thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dùng làm nẹp
và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tên
tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người mất được cài kỹ trong bó
chiếu, cũng là dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt được. Như thế Đội Hoàng
Sa là đội dân binh do Nhà nướclập ra. Nhà nước bổ nhiệm chỉ huy đội kiêm
chức vụ cai đồn cửa biển Sa Kỳ cùng chức thủ ngư, trông coi bắt giặc
cướp biển và kiêm quản đội Bắc Hải ở Phía Nam, quản lý Biển Đông. Dân
binh đi làm nghĩa vụ được cấp phát lương thực. Với những nhiệm vụ và tổ
chức hoạt động kể trên, đội Hoàng Sa thu lượm trước hết những hải vật
quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn nhưchiếc
chiếu, bụng có châu ngọc lớn nhưngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc
con trai châu song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ
ốc làm Thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ
dùng; có thứ đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải
ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống nhưcon đồi mồi,
nhưng nhỏ hơn). Những hải sản quí trên tuy cũng có nộp cho Chúa hay Nhà
vua khi xưng vương ở Phú Xuân theo qui định, song thường vẫn cho đội
Hoàng Sa bán, thường thì bán cho thị Trườngở Hội An tiêu thụ nhiều và có
giá hơn. Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toản Tập
Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều là
vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ Biên Tạp Lục thì ghi: những đồ hải vật
nhưgươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc
khối, chì đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ.
Lê Quý Đôn hồi
làm Hiệp Trấn Thuận Hoá trong Phủ Biên Tạp Lục có viết: “ông tra khảo
sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu”, người chỉ huy đội Hoàng Sa trong
nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa cụ
thể như sau:
- Năm Nhâm Ngọ (1702), đội Hoàng Sa lượm được bạc 30 thoi.
- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được thiếc 5100 cân.
- Năm Ất Dậu, lượm được bạc 126 thoi.
Còn
từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm,
thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần
họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.
2.2.
Đội Bắc Hải hoạt động Dưới sự kiêm quản của đội Hoàng Sa trong khu vực
phía Nam của Biển Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận
Sớm
nhất từ khi lãnh thổ Đại Việt tới đất Bình Thuận vào khoảng năm 1697,
đội Bắc Hải ra đời do đội Hoàng Sa kiêm quản. Càng ngày càng có nhiều
đội khác cũng có chức năng và nhiệm vụ như đội Bắc Hải được Thành lập,
vì chính quyền Nhà Nguyễn dần dần tìm ra các đảo san hô hết sức rộng ở
Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để đội Hoàng Sa kiêm quản để có một
đầu mối, hầu có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông. Như thế người chỉ
huy đội Hoàng Sa là cai đội phải là vị quan lớn như cai đội Thuyên Đức
Hầu đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713
(Quý Tỵ). Thuyên Đức Hầu đã được phong tàiớc hầu. Hoặc như Phú Nhuận hầu
cũng thế trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã
kiêm luôn “khâm sai cai thủ” cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức “cai cơ thủ ngự”,
kiêm quản đội Hoàng Sa (tờ kê trình của Phú Nhuận hầu được lưugiữ tại
Nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn,
tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự
là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn. Chính Phú Nhuận hầu
được giao nhiều chức vụ quan trọng. Cũng từ đó có uy tín để kiêm quản
các đội khác như đội Bắc Hải. Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quý Đôn
đã ghi chép rất cụ thể việc đội Bắc Hải như sau: “Họ Nguyễn còn thiết
lập một đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn
người thôn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn
người làng Cảnh Dương lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc
Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi
làm công tác”. "Những người được bổ sung vào đội Bắc Hải đều được miễn
nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt nhưtiền đi qua đồn tuần, qua đò.
Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn
Lôn và các đảo thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi
mồi, hải ba, đồn ngư (cá heo lớn nhưcon heo), lục quý ngư, hải sâm (con
đỉa biển). Nhưthế về tổ chức, đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu
suất, số lượng tùy theo tình hình khả năng các thôn Tứ Chính thuộc phủ
Bình Thuận hay làng Cảnh Dương, tình nguyện và được cấp văn bằng và sai
phái đi hoạt động. Quyền lợi cũng nhưđội khác được miễn sưu cùng các thứ
tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò. Không thấy miễn tiền
thuế. Cũng dùng thuyền tài nhân, thuyền câu. Phạm vi hoạt động ở phía
Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay, và cả Côn Lôn, Hà Tiên. Ở phía Nam
Biển Đông khu vực Trường Sa hiện nay ít có bão lớn, không nguy hiểm, ít
có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật từ tàu đắm như vàng
bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt là loại cá heo (đồn
ngư)... Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX)
tiếp tục ghi chép. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên soạn xong năm 1844 chép
rằng đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh DƯơng,
được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do đội
Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi,
soạn xong năm 1882 cũng còn viết "đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tìm lấy hải
vật cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản". Không có tài liệu nào cho biết đội
Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau đội Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn
đội Bắc Hải ra đời sau đội Hoàng Sa và trước năm 1776 tức là trước khi
Lê Quý Đôn viết Phủ biên Tạp Lục.
II. Nhà Nguyễn tiếp tục sử dụng
đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải khai thác và quản lý Biển Đông thời từ năm
1816 sử dụng thuỷ quân cắm cột mốc, bia chủ quyền theo cách người phương
Tây cho đến khi Việt Nam bị Pháp xâm lược
1. Nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa
Sang
thời kỳ Triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu
chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa:
- Trước hết là Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhất kỷ
(khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc
in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và
TrườngSa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục
xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa.
-
Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) có đoạn văn đề cập đến
việc dựng miếu ở Hoàng Sa trong quyển 207 và đoạn văn trong bộ sách Khâm
Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ quyển 221 chép “Bộ Công tâu rằng: Hoàng Sa
thuộc khu vực ngoài biển rất là hiểm yếu. Hàng năm cần phải đi thám dò
khắp chỗ thuộc đường bể. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần
tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.
- Tài liệu rất quý giá là
châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại Kho Lưu
trữ Trung ương 1 ở HàNội. ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu
của các đình thần các bộ như bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ
của các Nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa Dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng
Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng
thám. Sau đó lại tiếp tục. Tài liệu đặc biệt này trước đây được tàng trữ
tại chi nhánh văn khố quốc gia ở Đà Lạt. Trước ngày 30-4-1975, Chính
quyền Sài gòn cho chuyển về Nha Văn Khố ở Sài Gòn. Sau 1975 được đổi là
Kho Lưu trữ Trung ương 2 và sau đó được chuyển ra Kho Lưu trữ Trung ương
1 ở HàNội.
Về tài liệu của Tây Phương như:
- Le Mémoire
sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) viết vào
những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816
vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.
-
Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs
religions, moeurs et coutumes của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho
rằng Hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo
Hoàng Sa năm 1816.
- An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục
Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và
nằm trong vùng biển của Việt Nam.
- The Journal of the Asiatic
Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua
Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels.
- The
Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi
nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ
để thu thuế ở Paracels...
2. Thủy quân triều đình Nhà Nguyễn, Việt Nam đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm cột mốc ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trước
khi lên ngôi Hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot giúp
đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa. Lúc đầu
đội Hoàng Sa có trách nhiệm xem xét đo đạc thủy trình nhưthời Gia Long,
tháng giêng, năm ất Hợi (1815), Phạm Quang Anh, thuộc đội Hoàng Sa được
lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang ảnh hiện
được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh,
xưalà phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré). Đến năm
Gia Long thứ 15, năm Bính Tí (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả
thủy quân phối hợp với đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc
thủy trình… Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao
cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình.
Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165: “Xem từ năm nay về
sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và
giám Thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến
Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền
của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”.
Đo đạc thủy trình hay hải
trình là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ
đạo của Bộ Công cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển
trong đó có vùng biển Hoàng Sa. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản
đồ ở Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám
Thành, với địa phương Quảng Ngãi và đội Hoàng Sa. Đối với việc đo đạc ở
Hoàng Sa, thưởng phạt đặc biệt hơn. Vì thế từ thời vua Minh Mạng năm thứ
17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi
vì gió bão phải đình lại, sau lại tiếp tục. Tỷ nhưnăm Thiệu Trị thứ 5
(1845) có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đình hoãn, đến năm Thiệu Trị thứ 6
(1846) cũng cho đình hoãn do Bộ Công tâu xin hoãn. Sau đó đến thời Tự
Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lệ sách Đại Nam
Thực Lục Chính Biên thời Tự Đức những việc đã Thành lệ rồi không còn
chép nữa. Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa thì bắt đầu triều
Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân (kể từ kinh Thành Huế đến Quảng
Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh Thành Huế, thuỷ quân
tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể.
Nhưnăm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3,
nhưngvì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4
vẫn chưa khởi hành được. Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa
từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc.
Sau
dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi. Nếu chậm
trễ mà có lý do chính đáng thì không sao, song nếu tùy tiện thì bị phạt,
hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn tất tốt đều được thưởng.
Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835), cai đội Phạm Văn Nguyên trên
đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội
và bị phạt 80 trượng, song cho phục chức cai đội. Tộc họ Phạm Văn hiện
có Nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông xã Lý Vĩnh (trước đây là
phường An Vĩnh). Hiện có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý
Sơn. Các viên giám Thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng
vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song
cùng đi chuyến này những người trong đội Hoàng Sa nhưVõ Văn Hùng (tộc họ
Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưalà phường An Vĩnh,
thuộc huyện đảo Lý Sơn), Phạm Văn Sanh (hiện họ Phạm Văn còn từ đường và
khu "lăng" mộ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn) hướng dẫn, đo
hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền Phi Long ngân tiền
và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được
thưởng mỗi người 1 quan tiền. Cũng thế vào năm Minh Mạng 18 (1837), do
khởi hành chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm
Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh (lần trước
được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và
Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi tiết trên đã
minh hoạ rất hùng hồn việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trong việc đo
đạc thủy trình và vẽ bản đồ.
Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được qui
định cũng rất rõ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị
kỷ quyển 165 cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 221 như
sau: “Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều
dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nướcbể
nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay
bình thường, xem đo tỏ tường vẽ Thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do
cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo
đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy
trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước
lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về
trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng,
chiếu theo lệ ấy mà làm”.
Như thế việc đo đạc phải kết hợp với
việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ hoạ đồ lại là các viên giám Thành. Việc
đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa Dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ
thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám Thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn
Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi
người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ
17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào.
Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi
Hoàng Sa vẽ Thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo
Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình
sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ
riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu
cầu vẽ lại tinh vi hơn. Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt
Nam vào thời kỳ Nhà Nguyễn tuy có kỹ, chu đáo hơn trước, song vẫn còn
lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của Phương Tây lúc bấy giờ, nhất là
chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu.
Vì
thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải chỉ có hải đồ là
có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến những người từng trải
đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa
vốn được các giám Thành vẽ hoặc được lưuở vệ giám Thành, hoặc ở thủy
quân và Bộ Công. Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4 - 7 - 1885 và cuộc
chiến tranh chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh Thành bị đốt phá, đã
không còn giữ lại những tập bản đồ qúi giá về Hoàng Sa đã được vẽ rất kỹ
lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã
vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa. Những người Pháp cộng tác với vua
Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về
những hành động của vua Gia long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le
mémoire sur la Cochichine" “Chỉ đến năm 1816, đương kim Hoàng đế đã
chiếm hữu quần đảo ấy” hay giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816
mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng
Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long
đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt
Nam". Những người Phương Tây trên không phải là những nhà nghiên cứu
nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ
từ lâu việc thực thi chủ quyền của Việt Nam nhưthế nào ở Hoàng Sa. Đại
Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển 50 đã ghi chép hoạt động của
đội Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình do Phạm Quang Anh làm đội
trưởng vào năm 1815. Đến năm 1816, vua Gia Long lần đầu tiên ban lệnh
cho thủy quân với sự hướng dẫn của dân binh đội Hoàng Sa đi xem xét, đo
đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị
kỷ, quyển 52).
Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng,
thủy quân hàng năm liên tục đã Thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa
đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các
hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… Lực lượng thủy quân
làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc
nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương trong có dân binh
đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân
chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy
quân đóng ở kinh Thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái còn
các viên giám Thành trong vệ giám Thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ
nhưđã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có
nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân
công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động binh dân ở tỉnh Quảng Ngãi,
có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định nhưtrong chuyến công tác năm 1835
và 1837 đã dẫn trên đây.
Nhiệm vụ của “lực lượng đặc nhiệm” luôn
được Hoàng đế Việt Nam theo sát và ra chỉ dụ cụ thể nhất là Dưới triều
vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm
này quan trọng đến chừng nào. Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ
việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836),
Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân,
chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải): “Báo
gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận
biên" và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu,
cắm mốc tới đó để lưudấu”. Cũng chính vua Minh Mạng theo dõi các chuyến
đi công tác Hoàng Sa và đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dân
binh đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan
tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy
như cai đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị
tội. Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa cũng được tổ chức chuẩn bị kỹ
lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thủy quân
là chính phối hợp với vệ giám Thành, và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Thời
gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Đại Nam Thực Lục Chính
Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rõ: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi
đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám Thành đáp
1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao
cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn
ra xứ Hoàng Sa”. Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng giêng
(tháng 2 Dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 Dương lịch) thì
có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 Dương lịch) là lúc
biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa. Từ Quảng Ngãi, phải thuê 4
chiếc thuyền của dân. Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ
hơn thuyền Điếu hải thuộc thủy quân ở các tỉnh trong đó có tỉnh Quảng
Ngãi. Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui củ có
nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cắm cột mốc,
dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa. Đại Nam Nhất Thống
Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, Nhà vua sai
quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi
cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ
“Vạn Lý Ba Bình”. Nhưthế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng
miếu chùa rồi.
Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã
chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng
bia chủ quyền. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã
chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ công tâu vua cứ hằng năm
cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm
cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17
(1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi
thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5
thước, rộng 5 tấc". Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn
ghi rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy
quân Phạm Hữu Nhật đưabinh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm
dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc
những chữ: “ Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội
trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tường đồ chí thử,
hữu chí đẳng tài (tờ
25b)”. (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính
Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra
Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ) Mỗi năm cột mốc đều
khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy “lực lượng thủy
quân đặc nhiệm”, được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ
tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm
của các năm cụ thể thời Minh Mạng nhưcai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm
Minh Mạng thứ 16 (1835), chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm
Minh Mạng thứ 17 (1836), thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng
thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10
bài gỗ. Mỗi năm 4, 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các
đảo, song rất khó tổng kết tổng cộng trên thực tế cắm cột mốc được bao
nhiêu đảo.
3. Thủy quân xây dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Các
vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc
dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm Minh
Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng
Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế Nhà đá. Việc dựng miếu này
theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ
năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự
kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua
Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám
Thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu
đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu
xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có
nhiệm vụ lâu dài hơn.Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và
đằng sau đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của
Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy
nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để tìm dấu mà nhận.
Nhưthế cây trồng ở Hoàng Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ
không trồng theo kiểu trồng loại cây con. Đó cũng hợp lý vì mang cây con
ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo Dưỡng được
cây sống để mà trồng.
Thời gian hoạt động hàng năm của thủy quân
vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi
cho việc gieo hạt trồng cây. ý của vua Minh Mạng sai trồng cây cũng cho
rằng gần đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu
dễ nhận ra đảo mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo. Như thế, lợi dụng
Việt Nam bị mất quyền tự chủ trong thời kỳ Pháp đô hộ, theo hoà ước
1884, quyền ngoại giao với nướcngoài do người Pháp đảm trách, chính
quyền Quảng Đông, Trung Quốc lấy cớ các đảo ở biển Nam Hải vô chủ, đã tổ
chức chiếm hữu bất hợp pháp, vi phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam
vốn đã từ lâu. Trước năm 1909 chưa hề có một bản đồ nào của Trung Quốc
ghi tên Tây Sa và Nam Sa. Cuốn sách "Trung Quốc Địa Lý Giáo Khoa Thư" do
Thượng Hải Thượng Vụ An Thư Quán, xuất bản năm 1906 ghi điểm cực nam
lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam nhưsau: "Phía nam bắt đầu là vĩ độ
18013B lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm
mút".
Đáng tiếc là về phía Pháp, theo hiệp ước 1884 hay hiệp ước
1885 được chỉnh sửa, lẽ ra phải có nhiệm vụ lên tiếng phản đối những
hành động của Trung Quốc (dù đó là của chính quyền địa phương), song lại
im lặng. Đúng nhưnội dung văn thư số 35 của ông Wilden, đại sứ đặc mệnh
toàn quyền Pháp ở Trung Hoa gửi cho Bộ Ngoại Giao Pháp A. Briand ngày
28 tháng 7 năm 1930: "Mặc dù nướcPháp chưa bao giờ chính thức công nhận
các quyền của Trung Quốc trên quần đảo này thì vẫn còn chuyện chúng ta
rõ ràng đã bỏ qua không phản đối tất cả các hành vi mà Trung Quốc quan
tâm tới việc ngắt quãng định kỳ thời hiệu, có thể chống lại họ, đang tìm
cách từ vài năm nay chứng tỏ rằng họ coi quần đảo Hoàng Sa nhưbộ phận
phụ thuộc vào lãnh thổ họ và đang cố gắng đặt chúng ta trước việc đã
rồi". Trong khi đó, Triều đình Huế chỉ còn là hư vị từ thời vua Đồng
Khánh. Trong thời vua Khải Định, quyền hành ở trong tay viên khâm sứ
người Pháp là Le Fol. Sau khi người Trung Quốc sáp nhập hành chánh quần
đảo Paracels vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Đông vào ngày
30 tháng 1 năm 1921 bằng một mệnh lệnh của chính quyền quân sự miền Nam
Trung Hoa, thì chính quyền thuộc địa Pháp càng ngày càng quan tâm đến
Hoàng Sa. Tài liệu lưu trữ, tài liệu của Phủ Toàn Quyền Pháp ở Sài gòn
cũng như Bộ Thuộc Địa Pháp không có thông tin gì về chủ quyền lâu đời
của "vương quốc Việt Nam", chỉ biết Hoàng Sa vẫn còn có những người Việt
Nam ở Trung Kỳ "mang cả vợ con" đi đánh cá, sống ở đảo Hoàng Sa và có
những xô xát đẫm máu với những người Trung Hoa ở Hải Nam và nhưthế chính
quyền Pháp cho rằng có quyền ngang hàng khi chính quyền Trung Quốc
chiếm hữu.
Mãi đến năm 1925, theo Khâm Sứ Trung Kỳ Le Fol viết
trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1926 gởi cho Toàn Quyền Đông Dương, người
Pháp mơi bắt đầu nghiên cứu sâu quá trình xác lập chủ quyền của "vương
quốc Việt Nam" tại quần đảo Hoàng Sa, trước khi cử ông Giám Đốc Viện Hải
Dương Học Và Nghề Cá ở Nha Trang – ông M.A. Krempt đi thám sát Hoàng
Sa. Qua kết quả nghiên cứu tìm hiểu về Hoàng Sa, Khâm Sứ Trung Kỳ LeFol
trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1929 gửi Toàn Quyền Đông DƯơng cho biết:
"Trong tác phẩm (Géographie de la Cochinchine được dịch ra Tiếng Anh và
đăng trong tạp chí Journal de la Société Asiatique de Bengale năm 1838,
đức cha Jean Louis Taberd, giám mục Ismaropolis (Khâm Mạng toà thánh tại
Nam Kỳ, Cao Miên và Champa) đã kể lại việc Hoàng Đế Gia Long đã chiếm
hữu quần đảo Paracels năm 1816 và long trọng kéo lá cờ Nam Kỳ trên quần
đảo. Việc chiếm hữu đó đã được các Biên Niên Sử của chính quyền An Nam
hay Đại Nam Nhất Thống chí, Nam Việt Địa Dư tập 2 hay địa Dư nướcAn Nam,
xuất bản năm thứ 14 đời Minh Mạng và cuối cùng "Đại Nam Nhất Thống Chí"
quyển 6 hay "Địa Dư Duy Tân"; “các tài liệu trong kho lưutrữ của chính
phủ An Nam cung cấp cho ta những chi tiết về hoạt động của đội Hoàng Sa
và đội Bắc Hải đặt Dưới quyền chỉ huy của đội Hoàng Sa”. Khâm Sứ LeFol
viết tiếp: "Sau khi Trung Quốc có yêu sách vào năm 1909, vì nướcPháp
thay mặt nướcAn Nam về quan hệ đối ngoại theo hiệp ước bảo hộ, đáng lẽ
phải khẳng định quyền của nướcđược bảo hộ đối với các đảo hữu quan. Thì
trái lại, hình nhưhoàn toàn không quan tâm đến vấn đề, nhưvậy làm lợi
cho người Trung Quốc và Dường nhưhọ chuẩn bị cho việc nắm quyền sở hữu
chính thức đối với các đảo đó".
Và cũng chính trong bức thư kể
trên, ông LeFol đã cho biết trước khi mất, ông Thân Trọng Huề, thượng
thư bộ Binh của triều đình Huế đã viết một văn thư ngày 3 tháng 3 năm
1925 khẳng định rằng: "Các đảo nhỏ đó bao giờ cũng là sở hữu của nướcAn
Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này". Ngày 31 tháng 3 năm 1939,
Bộ ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố Nhật kiểm soát quần đảo TrườngSa.
Tuyên bố chuyển tới đại sứ Pháp tại Nhật bằng một thông điệp khẳng định
rằng Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo Trường Sa vào năm
1917. Nhật Bản nhận rằng ở đó "không có một quyền lực hành chánh địa
phương nào, đó là một tình trạng có hại cho các lợi ích của Nhật và về
lâu dài có thể gây ra những khó khăn với Pháp". Ngày 4 tháng 4 năm 1939,
Bộ Ngoại Giao Pháp gửi một công hàm phản kháng quyết định của Nhật và
khẳng định các quyền của Pháp. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh
luận ngày 5 tháng 4 năm1939 tại Hạ Nghị Viện, đại diện Bộ Ngoại Giao Anh
đã khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp. Do
nhu cầu lập đầu cầu xâm chiếm Đông Nam Á, Nhật đã nhanh chóng chiếm vào
năm 1938 đảo Phú Lâm (Ile Boisée) và đảo Itu - Aba (Ba Bình) của Trường
Sa vào năm 1939. Mãi đến ngày Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9
tháng 3 năm 1945, Nhật mới bắt làm tù binh các đơn vị lính Pháp đóng ở
các đảo Hoàng Sa.
Suốt thời kỳ Pháp thuộc, các Nhà chức trách
Pháp tuyên bố chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của vương quốc An Nam ở quần
đảo Hoàng Sa mà nướcPháp có trách nhiệm bảo hộ, song các Nhà chức trách
Pháp vì quyền lợi riêng tài của nước Pháp có những thái độ bất nhất, khi
thì thờ ơ, không phản ứng kịp thời khi chủ quyền này bị nước ngoài
(Trung quốc) xâm phạm, thậm chí còn lấy Hoàng Sa làm vật trao đổi trong
quan hệ với Trung Quốc nhưPasquier thú nhận trong bức thư ngày 20 - 03
-1930 gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa hoặc có ý đồ tách các đảo Phía Nam
Biển Đông không còn nằm trong khối thống nhất của Hoàng Sa (Paracel) và
cho đó là quần đảo Spratly vô chủ để người Pháp chiếm hữu cho riêng nước
Pháp, song lại sát nhập vào Nam Kỳ, mà người Pháp gọi là sự sát nhập về
hành chánh mà thôi. Sau khi bại trận, Nhật đã chính thức từ bỏ sự chiếm
đóng trái phép. Song từ tháng 4/1956, quân Pháp rút khỏi Việt Nam, các
nước đã lợi dụng tình trạng phòng vệ qua loa, chiếu lệ, yếu kém của quân
đội Sài Gòn ở các đảo ở Biển Đông đã chiếm đóng trái phép: Trung Quốc
chiếm đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa: Phú Lâm, Đài Loan chiếm đóng
đảo lớn nhất Itu Aba của quần đảo TrườngSa, Philippines sau đó cũng
tuyên bố TrườngSa trừ đảo TrườngSa (Pratley) là của Philippines nằm kế
cận nướcnày rồi cũng chiếm một số đảo đá trong đó có đảo Song Tử Đông.
Mãi năm 1988 bằng vũ lực, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mới chiếm một số
bãi đá của Trường Sa. Năm 1994, Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm
thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với
công ty Crestones (Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc gọi
là hợp đồng Vạn An Bắc 21. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, ông R.C. Thompson,
chủ tịch công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ) ra thông báo với báo chí, nói
rằng họ đang tiến hành khảo sát địa chấn và chuẩn bị thăm đảo để đánh
giá tiềm năng dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng "Vạn An Bắc 21".
Thông báo nói rằng: "Việc nghiên cứu khoa học và kế hoạch khai thác
thương mại trong tàiơng lai là những bước phát triển mới nhất của lịch
sử nghiên cứu khoa học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực vạn An
Bắc của Trung Quốc, bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trước Công Nguyên
vào thời Hán Vũ Đế!
Dù gì đi nữa việc chiếm giữ của các nướcđối
với các đảo trong quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa là chiếm giữ bất hợp
pháp bằng vũ lực, trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Tất cả các chính
quyền có trách nhiệm về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng
Sa & Trường Sa chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền hợp pháp của mình. Mọi
lời tuyên bố của bất cứ chính quyền nào kể cả chính quyền Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà năm 1958, theo pháp lý quốc tế cũng không ảnh hưởng đến
việc từ bỏ chủ quyền của Việt Nam. Trong khi 2 chính quyền ở miền Nam
chịu trách nhiệm hành xử chủ quyền: một là Việt Nam Cộng hòa, hai là
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng như chính quyền CHXHCN Việt Nam thời
thống nhất đã tiếp tục bảo vệ, không từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong khi kiên trì chờ thời cơ,
vấn đề chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa phải được làm rõ ở trong và ngoài nước, để mọi người không mơ hồ về
một sự thực lịch sử: khi Việt Nam bị Pháp đô hộ và chiến tranh, các nước
láng giềng đã lợi dụng xâm phạm, chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng
Sa và một phần quần đảo Trường Sa của dân tộc Việt Nam. Cái gì của Cesar
phải trả lại cho Cesar. Trật tự thế giới mới văn minh trên cơ sở Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc phải được các nước bao gồm chính quyền và nhân dân
tôn trọng triệt để. Có như thế nhân loại mới sống trong an bình, thịnh
vượng, văn minh và tiến bộ.